Viêm xoang bắt đầu là
tình trạng phù nề niêm mạc các xoang, sau đó gây tắc lỗ thông các xoang
thông ra hốc mũi, rồi tiếp theo thoái hóa niêm mạc các xoang, các xoang
tụ dịch, mủ, thoái hóa polype, làm nghẹt mũi, chảy dịch, cản trở đường
thở; gây viêm nhiễm liên miên đường hô hấp; nhức đầu vai gáy, đau rát
cổ, khạc đàm và khịt mũi thường xuyên. Bệnh nặng có thể dẫn đến viêm phế
quản, viêm phổi, viêm màng não, não.
1.NHẮC LẠI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ MŨI XOANG
1.1. GIẢI PHẪU SƠ LƯỢC MŨI XOANG
Khuôn mặt được cấu tạo bởi nhiều xương nhỏ ghép lại, trong đó phần lớn là xương rỗng. Xoang chính là những hốc rỗng trong các xương mặt. Các xoang có liên quan đặc biệt tới hốc mũi và cơ quan lân cận. Trong khoang mũi có 8 nhóm xoang xếp thành bốn đôi cân đối hai bên hốc mũi; mỗi bên mặt có 1 xoang hàm, 1 xoang trán, 1 xoang bướm và có từ 15 – 17 xoang sàng.

-Xoang hàm: là xoang lớn nhất, nằm ở dưới hốc mắt, ngay bên cạnh mũi. Khi viêm xoang thường có cảm giác đau hai bên má.
- Xoang trán: là hai hốc rỗng, nằm trong xương trán, phía trong tương ứng với đầu lông mày. Tùy mỗi người xoang trán có thể nhỏ hay lớn. Viêm xoang trán thường nhức vùng chân mày và hốc mắt.
- Xoang sàng: là nhiều hốc nhỏ (gọi là tế bào sàng) nằm dọc từ trước ra sau giữa hốc mắt và hốc mũi, rất phức tạp nên người ta gọi là mê đạo sàng. Xoang sàng là xoang nhỏ nhất, xoang sàng lớn nhất bằng hạt lạc (đậu phộng), xoang nhỏ chỉ bằng hạt đậu xanh. Viêm xoang sàng thường chảy dịch xuống họng gây đau rát cổ, thường xuyên khạc, khịt mũi. Do cấu tạo phức tạp của xoang sàng nên các xoang sàng là các xoang bị viêm và thoái hóa đầu tiên.
- Xoang bướm: nằm ở dưới sàn sọ, là xoang nằm sâu nhất trong khoang mũi, liên quan với thần kinh thị và động mạch cảnh trong. Viêm xoang bướm thường gây nhức đỉnh đầu sau gáy, giảm thị lực.
1.2. SINH LÝ MŨI XOANG
Xoang là các hốc rỗng trong trong xương mặt. Thành trong các xoang được lót bởi lớp niêm mạc lông chuyển, tiết nhầy, các lớp niêm mạc tiết nhầy luôn luôn di chuyển theo một chiều về phía lỗ thông, chúng hoạt động như những cây chổi, quét các chất nhầy, vật lạ, xác vi khuẩn ra khỏi các xoang qua lỗ thông đưa ra hốc mũi. Bình thường các xoang đều thóang, khô và sạch, niêm mạc tiếp xúc trực tiếp với oxy ngoài môi trường.
Chức năng của xoang:
-Hấp thu oxy từ môi trường không khí.
-Làm ẩm không khí trước khi vào phổi bởi lớp niêm mạc lót.
-Sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, luôn cân bằng với nhiệt độ cơ thể.
-Làm nhẹ trọng lượng khối xương đầu mặt.
-Đảm bảo sự cân bằng cần thiết giữa mặt và sọ, làm cho mặt được cử động thuận lợi hơn.
-Cộng hưởng âm thanh.
2.BỆNH VIÊM XOANG
Bình thường các xoang được bố trí cân đối và đối xứng hai bên hốc mũi giúp cho sự trao đổi không khí với môi trường. Nhưng ở người có bất thường về giải phẫu thường dẫn đến viêm xoang.
2.1.BẤT THƯỜNG VỀ GIẢI PHẪU TRONG HỐC MŨI
-Vẹo vách ngăn.
-Phát triển quá mức của mỏm móc.
-Cuốn mũi giữa phát triển quá mức (Conchabullosa) làm hẹp khe mũi.
-Quá phát cuốn mũi dưới.
-VA phì đại.

Các bất thường về giải phẫu nêu trên gây ra sự cản trở thông khí và hạn chế dẫn lưu dịch trong hốc mũi, dẫn đến sự rối loạn sinh lý các xoang, là yếu tố thuận lợi dẫn đến viêm xoang.
2.2. MÔI TRƯỜNG VÀ CƠ ĐỊA DỊ ỨNG
Ngày nay, khi đô thị hóa ngày càng tăng, mật độ dân cư sống trong thành phố cao, khí thải từ nhà máy, xe cơ giới, bụi xây dựng, nấm mốc và phần hoa cỏ là các yếu tố môi trường không thuận lợi dễ nảy sinh bệnh viêm xoang. Người ta thấy rằng dân thành thị thường bị bệnh mũi xoang, bệnh đường hô hấp cao hơn dân nông thôn. Viêm mũi dị ứng thường kết hợp với hen nhất là ở trẻ em. Mỗi người có sự thích nghi và đáp ứng với môi trường sống khác nhau, cùng điều kiện sống và làm việc như nhau nhưng người có cơ địa dị ứng và có bất thường về cấu trúc giải phẫu dễ bị viêm xoang hơn.
2.3. VIÊM XOANG LÀ GÌ?
Viêm xoang là tình trạng viêm nhiễm niêm mạc lót ở trong xoang, gây tắc các lỗ thông xoang, nhất là những xoang nhỏ như xoang sàng.
Có hai loại viêm xoang:
- Viêm xoang cấp: là tình trạng viêm xoang trong một thời gian ngắn, thường đáp ứng tốt với thuốc kháng sinh và thuốc chống viêm. Nếu điều trị và chăm sóc tốt viêm xoang cấp sẽ khỏi.
- Viêm xoang mãn: do viêm xoang cấp không được điều trị khỏi, ít nhất 4 đợt viêm xoang cấp, tái phát gây tắc lỗ thông thông xoang, biến đổi chức năng thông khí, các xoang chứa dịch hay mủ. Để điều trị loại viêm xoang mãn cần điều trị thuốc kết hợp với thủ thuật. Nếu điều trị nội khoa không khỏi, cần được phẫu thuật.
2.4.NGUYÊN NHÂN GÂY VIÊM XOANG
Nguyên nhân phổ biến nhất là do viêm mũi, sau cảm cúm, viêm họng, hay sâu răng. Ngoài ra có thể do nhảy cầu, lặn khi đi bơi, do áp lực thay đổi đột ngột khi đi máy bay, hay có dị vật ở mũi...hoặc có thể do biến chứng của các bệnh cúm, sởi, ho gà, viêm phổi do phế cầu khuẩn.
Vi sinh vật gây viêm xoang cũng là những vi sinh vật gây viêm nhiễm đường hô hấp trên.
Ngoài ra còn có các yếu tố thuận lợi cho viêm xoang: môi trường ô nhiễm, ăn ở kém vệ sinh, vẹo vách ngăn, dị ứng, u lành, u ác ở mũi; tình trạng viêm nhiễm ở phổi, viêm phế quản mãn, giãn phế quản, kết hợp bệnh viêm xoang, giãn phế quản với dị tật tim sang phải.
2.5.VIÊM XOANG CẤP
- Viêm xoang trán, sàng cấp: khởi đầu như xổ mũi thông thường kéo dài 5-6 ngày rồi xuất hiện những cơn đau đặc biệt của viêm xoang trán: cơn đau phía trên ổ mắt, ở một bên với chu kỳ 2 lần mỗi ngày. Cơn đau tăng dần từ sáng đến giữa trưa thì đạt mức tối đa. Khi đó, mũi chảy nhiều mủ, xoang vơi đi và cơn đau dịu xuống, đến chiều lại tái diễn cơn đau đó. Đôi khi kèm chảy nước mắt, mắt đưa đi đưa lại cũng đau, da vùng xoang tăng cảm giác, chỉ sờ cũng đau, khi ấn vị trí dây thần kinh trên hốc mắt, đau nhói trong ổ mắt.
- Viêm xoang hàm cấp bắt đầu như sổ mũi thông thường nhưng kéo dài rồi xuất hiện cơn đau ở vùng dưới ổ mắt, ở một bên, cảm giác đau xuyên về một phía hàm răng, đau tăng khi gắng sức, khi nhai, khi nằm, ấn đau dưới ổ mắt. Niêm mạc hốc mũi xung huyết.
- Viêm xoang do răng thường có sâu răng hàm nhỏ hoặc răng hàm, với ổ áp xe quanh chân răng, mủ chảy vào trong xoang. Bệnh nhân đau nhức răng dữ dội, lợi quanh răng thường sưng, vài ngày sau mủ thối đổ ồ ạt vào xoang qua ngả chân răng.
- Viêm xoang sàng cấp ở trẻ em có thể gặp ở thời kỳ 2-4 tuổi. Bệnh có thể xuất hiện sau một đợt viêm mũi nhiễm trùng hoặc sau một đợt sổ mũi thông thường, viêm VA. Do xoang sàng nằm sát với thành trong ổ mắt, do đó dễ gây biến chứng vào mắt nên dấu hiệu về mắt xuất hiện rất sớm. Triệu chứng: sưng nề mi trên, góc trên trong của ổ mắt sưng đỏ, chạm vào rất đau. Trong tình trạng nặng hơn, mắt có thể bị phù, nhãn cầu bị đẩy lệch xuống dưới, ra trước ngoài.
- Viêm xương tủy hàm trên, giả dạng viêm xoang hàm xuất hiện ở trẻ còn bú thường từ 1-3 tháng, do tuổi này xoang vẫn còn nhỏ, vì vậy thường viêm phần xương của xương hàm trên. Nguyên nhân thường do nhiễm tụ cầu khuẩn của xương hàm trên. Các triệu chứng má sưng, mũi chảy mủ, lợi răng sưng, có khi có lỗ rò.
2.6.VIÊM XOANG MÃN
2.6.1.Nguyên nhân
- Viêm mũi mãn tính từ bé kéo dài, lớn lên có thể biến thành viêm xoang mãn tính.
-Viêm VA thường xuyên, VA quá phát.
- Ở người lớn sau một một đợt viêm xoang cấp tính, nếu chữa không dứt điểm có thể biến thành viêm xoang mạn tính.
-Viêm mũi dị ứng
-Nhiễm nấm trong xoang
-Vẹo vách ngăn
-U hốc mũi
-Polype hốc mũi nguyên phát
2.6.2.Triệu chứng
Viêm xoang có các triệu chứng:
-Nghẹt mũi: nghẹt mũi thường xuyên, dùng thuốc co mạch giảm thời gian ngắn sau đó bị nghẹt lại. Ngủ trong phòng máy lạnh, dưới quạt gây nghẹt mũi tăng lên.
-Chảy dịch: dịch thường đặc và có màu trắng, xanh hay vàng. Viêm xoang do nấm dịch chảy thành dòng từ lỗ thông xoang xuống họng, dịch dai.
-Khạc đàm:do dịch từ xoang chảy xuống họng nên người bệnh phải khạc, khịt mũi thường xuyên, hay hắng giọng.
-Đau rát cổ: dịch chảy xuống họng gây đau rát cổ, dễ nhầm do viêm amidan.
-Nhức đầu: nhức đầu không phải là triệu chứng đầu tiên trong viêm xoang. Nhức đầu xảy ra khi có những đợt bội nhiễm. Nhức đầu tăng gây nghẹt mũi. Nhức đầu nhiều ở người bị vẹo vách ngăn, quá phát cuốn giữa đè vào vách ngăn. Tính chất của nhức đầu cũng thay đổi tùy người, tùy từng vị trí của xoang bị viêm. Đợt viêm cấp thường nhức đầu dữ dội, sợ ánh sáng, nhưng viêm mãn thường nhức đầu âm ỉ, vùng đỉnh đầu, sau gáy lan xuống vai hai bên, đôi khi viêm xoang gây viêm tai giữa do tắc vòi nhĩ. Viêm nhóm xoang trước thường nhức đầu vùng trán, vùng mặt , nhức mắt có khi nhức đầu theo giờ nhất định, nhức đầu về buổi sáng. Viêm nhóm xoang sau thường nhức đầu vùng sau, nhức ê ẩm vùng chẩm vùng gáy lan xuống vai.
-Ho: do dịch từ xoang chảy xuống họng nên gây ho. Ho là phản xạ nhằm đẩy dịch không chảy vào thanh khí quản.
-Viêm phế quản, viêm phổi: trẻ nhỏ do nuốt phải chất dịch tiết từ xoang với VA, amidan, thường gây viêm phế quản tái diễn, viêm dạ dày-ruột, ho từng cơn.
-Viêm tai giữa tắc vòi nhĩ: gây đau tai, nặng có thể viêm tai giữa thanh dịch, màng nhĩ lõm. Khi đi máy bay hay bị đau tai.
2.7.CÁC DẠNG VIÊM XOANG MÃN
2.7.1.Viêm mũi xoang dị ứng: viêm mũi xoang dị ứng là người bị viêm xoang có tiền sử dị ứng, như vậy họ có hai bệnh là viêm xoang và dị ứng. Người bệnh bị dị ứng, do vậy niêm mạc trong các xoang bị phù nề, tiết dịch thường xuyên làm tắc các lỗ thông xoang, niêm mạc bị thoái hóa thành polype trong xoang hay hốc mũi, thậm chí cuốn mũi giữa, cuốn mũi dưới cũng thoái hóa polype. Ngứa mũi, hắt xì, chảy nước mũi, nghẹt mũi là các triệu chứng của viêm mũi xoang dị ứng. Bệnh diễn tiến từ từ sẽ xuất hiện polype trong xoang và hốc mũi, tiến đến không còn thở được bằng mũi và không ngửi được mùi. Nhiều trường hợp nấm xuất hiện trong bệnh viêm mũi xoang dị ứng. Trên phim CT mờ một phần hay toàn bộ các xoang.

Hình A: viêm mũi dị ứng, cuốn mũi phù nề thoái hóa bít kín khe mũi, người bệnh không thể thở được qua đường mũi; hình B: niếm mạc khe mũi dị ứng, phù nề thoái hóa polype; hình C:VA che kín cửa mũi sau, nhiều dịch tiết trong hốc mũi trong viêm mũi xoang dị ứng, viêm VA trẻ em.
Viêm mũi xoang dị ứng thường kết hợp với hen, nếu điều trị viêm mũi xoang dị ứng tốt ít bị lên cơn hen.
2.7.2.Viêm xoang polype mũi: là biểu hiện nặng hơn ở người viêm mũi xoang dị ứng, lâu dài sẽ dẫn đến polype mũi. Polype mũi là hiện tượng thoái hóa niêm mạc xoang bởi tình trạng viêm mãn tính, phù nề, cuối cùng polype mũi xuất hiện tại khe mũi, hốc mũi làm cản trở sự lưu thông khí qua mũi, gây nghẹt mũi liên miên, chảy mũi, giảm mùi. Lâu dài gây tình trạng hốc mũi bị giãn rộng, polype lòi ra cửa mũi trước, thòng vào cửa mũi sau, phá hỏng xương hốc mũi làm xương hốc mũi mỏng như vỏ quả bóng bàn, lấy tay ấn vào có hiện tượng lõm khi bỏ tay ra thành xương lại bật lên. Thay đổi hình dạng hốc mũi, làm cho mũi không còn chiều cao.

Hình ảnh nội soi bệnh viêm xoang polype mũi. Polype che kín khe mũi
2.7.3.Viêm mũi xoang trẻ em: viêm xoang trẻ em gặp ở trẻ em có bệnh viêm mũi dị ứng, viêm VA kéo dài. Do viêm mũi liên miên, niêm mạc các xoang bị phù nề làm tắc lỗ thông xoang, làm ứ dịch trong xoang, gây ra viêm xoang. Các xoang chứa dịch, khe mũi hai bên nhiều dịch làm trẻ viêm mũi kéo dài, ho do đàm nhớt chảy xuống họng thanh quản, viêm phế quản kéo dài, nặng có thể viêm phổi. Trẻ chán ăn, đi cấu phân lỏng, đầy bụng do nuốc phải dịch và mủ từ xoang chảy xuống.

Hình ảnh viêm xoang do nấm dưới nội soi: mủ màu trắng, dai chảy từ khe mũi xuống sàn mũi.
2.7.5.Viêm mũi teo (Ozene):niêm mạc cuốn mũi giữa, niêm mạc hốc mũi, niêm mạc vách ngăn bị bao phủ một lớp mày xanh, hôi phá hủy cấu trúc dưới niêm mạc. Lâu dần hốc mũi bị ăn rỗng nhưng người bệnh vẫn cảm giác mình bị nghẹt.

Hình ảnh viêm mũi teo niêm mạc hốc mũi bị che bởi lớp vảy xanh, hôi. Hốc mũi bị ăn rỗng.
2.7.6.Viêm xoang do răng: xảy ra một bên. Do răng tiền hàm, răng hàm bị viêm, do đặc điểm chân răng hàm cắm vào xoang hàm, nên khi sâu răng tạo ra ổ viêm trực tiếp xoang hàm. Chẩn đoán chính xác nhờ khám lâm sàng và chụp CT xoang.
3.ĐIỀU TRỊ VIÊM XOANG
Tùy thuộc mức độ viêm xoang mà bác sĩ đề nghị phương pháp điều trị phù hợp:
- Điều trị nội khoa: kháng sinh, kháng histamin, thuốc co mạch, rửa xoang bằng phương pháp Proetz định kỳ, nhằm loại bỏ các dị nguyên và dịch tiết trong xoang.
-Phẫu thuật:tùy theo mức độ viêm xoang, các loại phẫu thuật được đề nghị như mở khe giữa, phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng (FESS), phẫu thuật nội soi mũi xoang triệt căn (RESS). Loại bỏ các bất thường như vẹo vách ngăn, cắt bán phần cuốn mũi giữa, cắt polype mũi, lấy các tổ chức nấm, chữa sâu răng…
Viêm mũi xoang dị ứng, viêm xoang polype mũi: ngoài việc điều trị phẫu thuật lấy sạch polype, các xoang bị viêm. Chăm sóc định kỳ, xịt kháng histamin và rửa mũi.
Viêm xoang do nấm:cần lấy sạch các tổ chức nấm, đặt thuốc chống nấm khi mổ, rửa thuốc chống nấm sau mổ và uống thuốc chống nấm nếu thấy cần thiết.
-Chăm sóc sau mổ: việc chăm sóc bệnh nhân sau mổ xoang đóng vai trò rất quan trọng. Loại bỏ dịch viêm, máu bầm giúp cho các xoang mau lành, giảm nghẹt mũi, người bệnh bớt nhức đầu. Chế độ ăn uống tốt giúp người bệnh mau hồi phục. Việc tái khám sau mổ là cần thiết, tùy theo bệnh tích bác sĩ sẽ tái khám và chăm sóc đến khi xoang tốt. Nhiều trường hợp mổ xoang tốt nhưng không được chăm sóc tốt sẽ làm bệnh tái phát, nhất là viêm xoang polype mũi, viêm mũi xoang dị ứng và viêm xoang do nấm.
Phẫu thuật xoang kinh điển:
Trước đây khi chưa có nội soi, mổ xoang được soi sáng bằng đèn trán, do vậy phẫu thuật viên không thể nhìn xa và thấy rõ cấu trúc trong hốc mũi, do vậy phẫu thuật chủ yếu được thực hiện qua đường rãnh lợi môi và mới chỉ mổ xoang hàm bằng phẫu thuật mở xoang hàm; một số phẫu thuật viên có kinh nghiệm có thể phẫu thuật nạo sàng qua mũi ở nhóm sàng trước. Trên mặt người có khoảng bốn chục xoang, nhưng ngày xưa chỉ mổ một hay hai xoang hàm, như vậy còn gần bốn chục xoang (xoang sàng, xoang trán, xoang bướm) bị viêm chưa được phẫu thuật, do vậy bệnh viêm xoang không thể khỏi.
4. QUAN ĐIỂM ĐIỀU TRỊ VIÊM XOANG TÍCH CỰC
TẠI BV TMH SÀI GÒN
4.1. TẠI SAO ĐÃ PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG, BỆNH VIÊM XOANG VẪN CHƯA KHỎI?
Một số nguyên nhân mà sau mổ xoang, bệnh viêm xoang vẫn còn:
-Thứ nhất, viêm mũi dị ứng gắn liền với bệnh viêm xoang: phần lớn người bị bệnh viêm xoang có liên quan đến viêm mũi dị ứng.
-Thứ hai, bất thường về giải phẫu trong hốc mũi: vẹo vách ngăn, qúa phát cuốn mũi giữa, u hốc mũi không được giải quyết triệt để nên vẫn gây tắc sự lưu thông khí với các xoang.
-Thứ ba do suy nghĩ mình bị nhiễm siêu vi, cảm cúm sẽ tự khỏi, không cần khám bệnh để được chữa trị cho đúng. Chỉ khi viêm xoang nặng mới đi khám, lúc đã viêm xoang.
-Thứ tư do môi trường sống không sạch, bụi, nấm mốc, phấn hoa cỏ, thực phẩm gây dị ứng ở người có cơ địa dị ứng cũng góp phần làm cho niêm mạc các xoang ngày một phù nề, dẫn đến thoái hóa polype. Như vậy các xoang sẽ bị tắc hoàn toàn, người bệnh chuyển sang giai đoạn viêm
xoang mãn tính; nếu viêm xoang xảy ra ở người bị viêm mũi dị ứng bệnh sẽ trầm trọng hơn gọi là bệnh viêm mũi xoang dị ứng. Hậu quả tất yếu sẽ dẫn đến thoái hóa polype, thậm chí cuốn mũi giữa hay cuốn mũi dưới cũng thoái hóa polype. Một điều chắc chắn là các xoang nhỏ (xoang sàng) sẽ bị viêm mãn tính hơn các xoang hàm hay xoang trán, xoang bướm bởi lỗ thông các xoang sàng nhỏ, dễ tắc khi bị phù nề.
-Phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm:cấu tạo giải phẫu xoang rất phức tạp nên người ta goi vùng xoang sàng là mê đạo sàng, để chỉ sự phức tạp ngóc ngách như mê cung. Do phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm nên giải quyết vấn đề chưa triệt để, kinh nghiệm lâm sàng yếu.
-Do lấy chưa hết bệnh tích:do có nhiều xoang, khi phẫu thuậ không lấy hết bệnh tích các xoang bị viêm. Mổ xoang một bên hay một phần của một bên nên vẫn còn nhiều xoang bị viêm chưa được can thiệp.
-Chăm sóc sau mổ: người bệnh không được chăm sóc sau mổ, nên việc dẫn lưu chưa được thực hiện. Hơn nữa chăm sóc là kiểm tra xem còn vần đề nào chưa được giải quyết cần được loại bỏ khi chăm sóc.
-Thuốc: thuốc uống hay xịt đóng vai trò quan trọng sau mổ. Bình thường cần uống thuốc kháng sinh, kháng viêm, kháng Histamine khoảng 3 tuần sau mổ, nếu viêm xoang do nấm nếu thấy cần nên uống thuốc chống nấm 2 tuần. Rửa mũi vào tuần thứ ba sau mổ. Do không thực hiện tốt việc uống thuốc cũng góp phần làm viêm sau mổ.
4.2.QUI TRÌNH ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI XOANG TẠI BV TMH SÀI GÒN
Viêm xoang là tình trạng tắc các lỗ thông từ trong xoang dẫn ra hốc mũi, do niêm mạc bị phù nề, polype, dịch. Việc điều trị viêm xoang là lấy sạch niêm mạc xoang bị viêm, làm sao cho niêm mạc các xoang được tiếp xúc với oxy trong không khí qua đường mũi; các bất thường về cấu trúc giải phẫu trong hốc mũi cần phải được điều chỉnh, tạo sự thông thoáng trong mũi, giúp cho sự trao đổi khí với niêm mạc các xoang được tái hồi phục, bệnh viêm xoang sẽ khỏi.
Như ta đã biết, xoang là các hốc rỗng ở khối xương mặt, mỗi xoang đều có một ống thông với hốc mũi để dẫn lưu không khí từ mũi vào xoang
và ngược lại. Bên trong các xoang được che phủ bởi lớp niêm mạc có lông chuyển và tiết nhầy. Bình thường không khí đi vào trong các xoang qua lỗ thông; khi bị viêm, niêm mạc các xoang bị phù nề (nhất là trường hợp bị viêm mũi dị ứng) dẫn đến tắc các ống thông. Như vậy hiện tượng xuất tiết dịch trong các xoang xảy ra; nhưng do tắc không chảy ra hốc mũi, nên gây ứ đọng trong các xoang. Lúc đầu niêm mạc các xoang bị viêm nhưng vô trùng, sau đó vi khuẩn thường trú ở mũi hay mới xâm nhập gây viêm nhiễm trùng trong các xoang và hiện tượng mủ xanh, mủ vàng từ các xoang xảy ra. Các triệu chứng nghẹt mũi, chảy mũi, nặng đầu, nhức đầu, nhức mắt, khạc đàm xuất hiện. Nếu được điều trị nội khoa tích cực bệnh viêm xoang sẽ khỏi, các xoang dần trở lại trạng thái Bình thường. Qui trình điều trị bệnh viêm xoang nặng được thực hiện như sau:
1.Khám nội soi > 2. Chụp CT Scan não – xoang > 3.Chẩn đoán xác định trường hợp viêm xoang có có chỉ định phẫu thuật > 4.Phẫu thuật nội soi mũi xoang dựa trên CT và nội soi > 5. Chăm sóc sau mổ hàng tuần > 6. Tái khám sau mổ 2 tháng, nếu chưa tốt cần can thiệp thêm: đốt cuốn mũi dưới, tách dính cuốn. Như vậy người bệnh sẽ khỏi bệnh viêm xoang.
4.2.1.PHẪU THUẬT DỰA TRÊN CT XOANG, NỘI SOI MŨI XOANG
Ngày nay cùng với tiến bộ của khoa học, máy chụp cắt lớp điện toán (CT Scanner) ra đời giúp cho việc khảo sát các xoang chính xác hơn. Dựa vào phim CT bác sĩ phẫu thuật viên xác định được các xoang bị viêm, có thể lấy sạch bệnh tích các xoang bị viêm, nhất là xoang sàng sau và xoang bướm, do vậy bệnh viêm xoang sẽ khỏi.
Tùy theo bệnh tích viêm xoang mà phẫu thuật viên đề nghị phẫu thuật phù hợp:
Nếu chỉ tắc các lỗ thông xoang, niêm mạc trong xoang còn tốt, chỉ cần mở khe giữa, bệnh viêm xoang sẽ ổn định.
Nếu niêm mạc các xoang thoái hóa, tắc các lỗ thông xoang, cần phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng (Fess), nhằm lấy bệnh tích các xoang hư, mở lỗ dẫn lưu các xoang, giúp cho sự tái hồi phụ chức năng trong các xoang.
Nếu viêm xoang thoái hóa niêm mạc trong các xoang,tắc hoàn toàn lỗ thông các xoang, polype khe mũi hay hốc mũi cần lấy sạch bệnh tích và lấy bỏ các xoang viêm, cắt polype, nếu xoang bướm niêm mạc bị thoái hóa cần phải thực hiện phẫu thuật nội soi mũi xoang triệt căn (Ress).
Trong trường hợp viêm mũi xoang dị ứng, polype mũi, quá phát cuốn mũi giữa, viêm xoang do nấm cần phẫu thuật mở rộng hỗ trợ thêm bằng cắt bán phần cuốn mũi giữa và đốt cuốn mũi giữa.

Cùng với nội soi, CT Scanner góp phần chẩn đoán chính xác, giúp các bác sĩ điều trị thành công nhiều ca bệnh khó.
4.2.2.ĐỘI NGŨ THÀY THUỐC
Phẫu thuật viên:các Bác sĩ phẫu thuật viên bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn có đạo đức, được đào tạo chính qui. Bệnh viện thực hiện đào tạo các Bác sĩ của bệnh viện theo quan điểm 'Kiến thức giỏi, kỹ thuật tốt'. Kiến thức được đào tạo tại trường đại học, đào tạo nước ngoài, đào tạo sâu chuyên ngành, luôn theo kịp các phương pháp điều trị mới nhất về tai mũi họng của thế giới, là các bác sĩ giỏi. Bác sĩ của bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn đều được học và thực tập mổ xoang trên xác trước khi mổ trên người, khi mổ được hướng dẫn cụ thể nên nắm chắc các mốc phẫu thuật, kỹ thuật mổ tốt.
4.2.3.TRANG THIẾT BỊ Y TẾ HIỆN ĐẠI
Tiêu chí của bệnh viện là xây dựng bệnh viện Tai mũi họng Sài Gòn hiện đại, khám và điều trị bệnh tai mũi họng kỹ thuật cao. Từ đó xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, tiện nghi, bệnh viện khách sạn, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh dịch vụ y tế tốt giúp cho người bệnh tai mũi họng có thể điều trị tại bệnh viện không phải ra nước ngoài tốn kém.

4.2.4.CHĂM SÓC TOÀN DIỆN
4.2.4.1.Chăm sóc về y tế
Bệnh nhân được chăm sóc bởi đội ngũ điều dưỡng bệnh viện 24/24 giờ ngày. Người nhà chỉ đến thăm, không phải nuôi.
Bác sĩ phẫu thuật viên, bác sĩ trực, Giám đốc bệnh viện thăm người bệnh thường xuyên, Điều dưỡng thường xuyên túc trực đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, hỗ trợ người bệnh.
Hội chẩn các trường hợp bệnh khó, bệnh nặng kịp thời.
Bệnh viêm xoang tại bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn được điều trị theo quan điểm chẩn đoán chính xác, điều trị triệt để, chăm sóc toàn diện nhờ vậy tỷ lệ người bệnh khỏi bệnh cao.
Để đảm bảo xoang không bị viêm tái phát do dị ứng, người bị viêm xoang nên rửa mũi định kỳ mỗi một hay hai tuần một lần; mũi sẽ mãi thông thoáng không chảy dịch, cuộc sống thanh thản hơn.
4.2.4.2.Chế độ ăn uống
Góp phần vào điều trị việc chăm sóc người bệnh trong thời gian nằm tại bệnh viện, việc nghỉ ngơi dưỡng bệnh, ăn uống đủ dinh dưỡng, bữa ăn ngon, sạch. Bệnh nhân được uống nước ép trái cây tươi mỗi ngày, ăn theo chế độ bệnh.
Phòng bệnh sạch, yên tĩnh
Chế độ ăn đủ dinh dưỡng theo chế độ bệnh lý
Sữa tươi và nước trái cây tươi ép bổ sung dinh dưỡng tốt.
ĐỌC THÊM
CÁCH TỰ CHĂM SÓC KHI BỊ BỆNH VIÊM XOANG
1.NHẮC LẠI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ MŨI XOANG
1.1. GIẢI PHẪU SƠ LƯỢC MŨI XOANG
Khuôn mặt được cấu tạo bởi nhiều xương nhỏ ghép lại, trong đó phần lớn là xương rỗng. Xoang chính là những hốc rỗng trong các xương mặt. Các xoang có liên quan đặc biệt tới hốc mũi và cơ quan lân cận. Trong khoang mũi có 8 nhóm xoang xếp thành bốn đôi cân đối hai bên hốc mũi; mỗi bên mặt có 1 xoang hàm, 1 xoang trán, 1 xoang bướm và có từ 15 – 17 xoang sàng.
-Xoang hàm: là xoang lớn nhất, nằm ở dưới hốc mắt, ngay bên cạnh mũi. Khi viêm xoang thường có cảm giác đau hai bên má.
- Xoang trán: là hai hốc rỗng, nằm trong xương trán, phía trong tương ứng với đầu lông mày. Tùy mỗi người xoang trán có thể nhỏ hay lớn. Viêm xoang trán thường nhức vùng chân mày và hốc mắt.
- Xoang sàng: là nhiều hốc nhỏ (gọi là tế bào sàng) nằm dọc từ trước ra sau giữa hốc mắt và hốc mũi, rất phức tạp nên người ta gọi là mê đạo sàng. Xoang sàng là xoang nhỏ nhất, xoang sàng lớn nhất bằng hạt lạc (đậu phộng), xoang nhỏ chỉ bằng hạt đậu xanh. Viêm xoang sàng thường chảy dịch xuống họng gây đau rát cổ, thường xuyên khạc, khịt mũi. Do cấu tạo phức tạp của xoang sàng nên các xoang sàng là các xoang bị viêm và thoái hóa đầu tiên.
- Xoang bướm: nằm ở dưới sàn sọ, là xoang nằm sâu nhất trong khoang mũi, liên quan với thần kinh thị và động mạch cảnh trong. Viêm xoang bướm thường gây nhức đỉnh đầu sau gáy, giảm thị lực.
1.2. SINH LÝ MŨI XOANG
Xoang là các hốc rỗng trong trong xương mặt. Thành trong các xoang được lót bởi lớp niêm mạc lông chuyển, tiết nhầy, các lớp niêm mạc tiết nhầy luôn luôn di chuyển theo một chiều về phía lỗ thông, chúng hoạt động như những cây chổi, quét các chất nhầy, vật lạ, xác vi khuẩn ra khỏi các xoang qua lỗ thông đưa ra hốc mũi. Bình thường các xoang đều thóang, khô và sạch, niêm mạc tiếp xúc trực tiếp với oxy ngoài môi trường.
Chức năng của xoang:
-Hấp thu oxy từ môi trường không khí.
-Làm ẩm không khí trước khi vào phổi bởi lớp niêm mạc lót.
-Sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, luôn cân bằng với nhiệt độ cơ thể.
-Làm nhẹ trọng lượng khối xương đầu mặt.
-Đảm bảo sự cân bằng cần thiết giữa mặt và sọ, làm cho mặt được cử động thuận lợi hơn.
-Cộng hưởng âm thanh.
2.BỆNH VIÊM XOANG
Bình thường các xoang được bố trí cân đối và đối xứng hai bên hốc mũi giúp cho sự trao đổi không khí với môi trường. Nhưng ở người có bất thường về giải phẫu thường dẫn đến viêm xoang.
2.1.BẤT THƯỜNG VỀ GIẢI PHẪU TRONG HỐC MŨI
-Vẹo vách ngăn.
-Phát triển quá mức của mỏm móc.
-Cuốn mũi giữa phát triển quá mức (Conchabullosa) làm hẹp khe mũi.
-Quá phát cuốn mũi dưới.
-VA phì đại.
Các bất thường về giải phẫu nêu trên gây ra sự cản trở thông khí và hạn chế dẫn lưu dịch trong hốc mũi, dẫn đến sự rối loạn sinh lý các xoang, là yếu tố thuận lợi dẫn đến viêm xoang.
2.2. MÔI TRƯỜNG VÀ CƠ ĐỊA DỊ ỨNG
Ngày nay, khi đô thị hóa ngày càng tăng, mật độ dân cư sống trong thành phố cao, khí thải từ nhà máy, xe cơ giới, bụi xây dựng, nấm mốc và phần hoa cỏ là các yếu tố môi trường không thuận lợi dễ nảy sinh bệnh viêm xoang. Người ta thấy rằng dân thành thị thường bị bệnh mũi xoang, bệnh đường hô hấp cao hơn dân nông thôn. Viêm mũi dị ứng thường kết hợp với hen nhất là ở trẻ em. Mỗi người có sự thích nghi và đáp ứng với môi trường sống khác nhau, cùng điều kiện sống và làm việc như nhau nhưng người có cơ địa dị ứng và có bất thường về cấu trúc giải phẫu dễ bị viêm xoang hơn.
2.3. VIÊM XOANG LÀ GÌ?
Viêm xoang là tình trạng viêm nhiễm niêm mạc lót ở trong xoang, gây tắc các lỗ thông xoang, nhất là những xoang nhỏ như xoang sàng.
Có hai loại viêm xoang:
- Viêm xoang cấp: là tình trạng viêm xoang trong một thời gian ngắn, thường đáp ứng tốt với thuốc kháng sinh và thuốc chống viêm. Nếu điều trị và chăm sóc tốt viêm xoang cấp sẽ khỏi.
- Viêm xoang mãn: do viêm xoang cấp không được điều trị khỏi, ít nhất 4 đợt viêm xoang cấp, tái phát gây tắc lỗ thông thông xoang, biến đổi chức năng thông khí, các xoang chứa dịch hay mủ. Để điều trị loại viêm xoang mãn cần điều trị thuốc kết hợp với thủ thuật. Nếu điều trị nội khoa không khỏi, cần được phẫu thuật.
2.4.NGUYÊN NHÂN GÂY VIÊM XOANG
Nguyên nhân phổ biến nhất là do viêm mũi, sau cảm cúm, viêm họng, hay sâu răng. Ngoài ra có thể do nhảy cầu, lặn khi đi bơi, do áp lực thay đổi đột ngột khi đi máy bay, hay có dị vật ở mũi...hoặc có thể do biến chứng của các bệnh cúm, sởi, ho gà, viêm phổi do phế cầu khuẩn.
Vi sinh vật gây viêm xoang cũng là những vi sinh vật gây viêm nhiễm đường hô hấp trên.
Ngoài ra còn có các yếu tố thuận lợi cho viêm xoang: môi trường ô nhiễm, ăn ở kém vệ sinh, vẹo vách ngăn, dị ứng, u lành, u ác ở mũi; tình trạng viêm nhiễm ở phổi, viêm phế quản mãn, giãn phế quản, kết hợp bệnh viêm xoang, giãn phế quản với dị tật tim sang phải.
2.5.VIÊM XOANG CẤP
- Viêm xoang trán, sàng cấp: khởi đầu như xổ mũi thông thường kéo dài 5-6 ngày rồi xuất hiện những cơn đau đặc biệt của viêm xoang trán: cơn đau phía trên ổ mắt, ở một bên với chu kỳ 2 lần mỗi ngày. Cơn đau tăng dần từ sáng đến giữa trưa thì đạt mức tối đa. Khi đó, mũi chảy nhiều mủ, xoang vơi đi và cơn đau dịu xuống, đến chiều lại tái diễn cơn đau đó. Đôi khi kèm chảy nước mắt, mắt đưa đi đưa lại cũng đau, da vùng xoang tăng cảm giác, chỉ sờ cũng đau, khi ấn vị trí dây thần kinh trên hốc mắt, đau nhói trong ổ mắt.
- Viêm xoang hàm cấp bắt đầu như sổ mũi thông thường nhưng kéo dài rồi xuất hiện cơn đau ở vùng dưới ổ mắt, ở một bên, cảm giác đau xuyên về một phía hàm răng, đau tăng khi gắng sức, khi nhai, khi nằm, ấn đau dưới ổ mắt. Niêm mạc hốc mũi xung huyết.
- Viêm xoang do răng thường có sâu răng hàm nhỏ hoặc răng hàm, với ổ áp xe quanh chân răng, mủ chảy vào trong xoang. Bệnh nhân đau nhức răng dữ dội, lợi quanh răng thường sưng, vài ngày sau mủ thối đổ ồ ạt vào xoang qua ngả chân răng.
- Viêm xoang sàng cấp ở trẻ em có thể gặp ở thời kỳ 2-4 tuổi. Bệnh có thể xuất hiện sau một đợt viêm mũi nhiễm trùng hoặc sau một đợt sổ mũi thông thường, viêm VA. Do xoang sàng nằm sát với thành trong ổ mắt, do đó dễ gây biến chứng vào mắt nên dấu hiệu về mắt xuất hiện rất sớm. Triệu chứng: sưng nề mi trên, góc trên trong của ổ mắt sưng đỏ, chạm vào rất đau. Trong tình trạng nặng hơn, mắt có thể bị phù, nhãn cầu bị đẩy lệch xuống dưới, ra trước ngoài.
- Viêm xương tủy hàm trên, giả dạng viêm xoang hàm xuất hiện ở trẻ còn bú thường từ 1-3 tháng, do tuổi này xoang vẫn còn nhỏ, vì vậy thường viêm phần xương của xương hàm trên. Nguyên nhân thường do nhiễm tụ cầu khuẩn của xương hàm trên. Các triệu chứng má sưng, mũi chảy mủ, lợi răng sưng, có khi có lỗ rò.
2.6.VIÊM XOANG MÃN
2.6.1.Nguyên nhân
- Viêm mũi mãn tính từ bé kéo dài, lớn lên có thể biến thành viêm xoang mãn tính.
-Viêm VA thường xuyên, VA quá phát.
- Ở người lớn sau một một đợt viêm xoang cấp tính, nếu chữa không dứt điểm có thể biến thành viêm xoang mạn tính.
-Viêm mũi dị ứng
-Nhiễm nấm trong xoang
-Vẹo vách ngăn
-U hốc mũi
-Polype hốc mũi nguyên phát
2.6.2.Triệu chứng
Viêm xoang có các triệu chứng:
-Nghẹt mũi: nghẹt mũi thường xuyên, dùng thuốc co mạch giảm thời gian ngắn sau đó bị nghẹt lại. Ngủ trong phòng máy lạnh, dưới quạt gây nghẹt mũi tăng lên.
-Chảy dịch: dịch thường đặc và có màu trắng, xanh hay vàng. Viêm xoang do nấm dịch chảy thành dòng từ lỗ thông xoang xuống họng, dịch dai.
-Khạc đàm:do dịch từ xoang chảy xuống họng nên người bệnh phải khạc, khịt mũi thường xuyên, hay hắng giọng.
-Đau rát cổ: dịch chảy xuống họng gây đau rát cổ, dễ nhầm do viêm amidan.
-Nhức đầu: nhức đầu không phải là triệu chứng đầu tiên trong viêm xoang. Nhức đầu xảy ra khi có những đợt bội nhiễm. Nhức đầu tăng gây nghẹt mũi. Nhức đầu nhiều ở người bị vẹo vách ngăn, quá phát cuốn giữa đè vào vách ngăn. Tính chất của nhức đầu cũng thay đổi tùy người, tùy từng vị trí của xoang bị viêm. Đợt viêm cấp thường nhức đầu dữ dội, sợ ánh sáng, nhưng viêm mãn thường nhức đầu âm ỉ, vùng đỉnh đầu, sau gáy lan xuống vai hai bên, đôi khi viêm xoang gây viêm tai giữa do tắc vòi nhĩ. Viêm nhóm xoang trước thường nhức đầu vùng trán, vùng mặt , nhức mắt có khi nhức đầu theo giờ nhất định, nhức đầu về buổi sáng. Viêm nhóm xoang sau thường nhức đầu vùng sau, nhức ê ẩm vùng chẩm vùng gáy lan xuống vai.
-Ho: do dịch từ xoang chảy xuống họng nên gây ho. Ho là phản xạ nhằm đẩy dịch không chảy vào thanh khí quản.
-Viêm phế quản, viêm phổi: trẻ nhỏ do nuốt phải chất dịch tiết từ xoang với VA, amidan, thường gây viêm phế quản tái diễn, viêm dạ dày-ruột, ho từng cơn.
-Viêm tai giữa tắc vòi nhĩ: gây đau tai, nặng có thể viêm tai giữa thanh dịch, màng nhĩ lõm. Khi đi máy bay hay bị đau tai.
2.7.CÁC DẠNG VIÊM XOANG MÃN
2.7.1.Viêm mũi xoang dị ứng: viêm mũi xoang dị ứng là người bị viêm xoang có tiền sử dị ứng, như vậy họ có hai bệnh là viêm xoang và dị ứng. Người bệnh bị dị ứng, do vậy niêm mạc trong các xoang bị phù nề, tiết dịch thường xuyên làm tắc các lỗ thông xoang, niêm mạc bị thoái hóa thành polype trong xoang hay hốc mũi, thậm chí cuốn mũi giữa, cuốn mũi dưới cũng thoái hóa polype. Ngứa mũi, hắt xì, chảy nước mũi, nghẹt mũi là các triệu chứng của viêm mũi xoang dị ứng. Bệnh diễn tiến từ từ sẽ xuất hiện polype trong xoang và hốc mũi, tiến đến không còn thở được bằng mũi và không ngửi được mùi. Nhiều trường hợp nấm xuất hiện trong bệnh viêm mũi xoang dị ứng. Trên phim CT mờ một phần hay toàn bộ các xoang.
Hình A: viêm mũi dị ứng, cuốn mũi phù nề thoái hóa bít kín khe mũi, người bệnh không thể thở được qua đường mũi; hình B: niếm mạc khe mũi dị ứng, phù nề thoái hóa polype; hình C:VA che kín cửa mũi sau, nhiều dịch tiết trong hốc mũi trong viêm mũi xoang dị ứng, viêm VA trẻ em.
Viêm mũi xoang dị ứng thường kết hợp với hen, nếu điều trị viêm mũi xoang dị ứng tốt ít bị lên cơn hen.
2.7.2.Viêm xoang polype mũi: là biểu hiện nặng hơn ở người viêm mũi xoang dị ứng, lâu dài sẽ dẫn đến polype mũi. Polype mũi là hiện tượng thoái hóa niêm mạc xoang bởi tình trạng viêm mãn tính, phù nề, cuối cùng polype mũi xuất hiện tại khe mũi, hốc mũi làm cản trở sự lưu thông khí qua mũi, gây nghẹt mũi liên miên, chảy mũi, giảm mùi. Lâu dài gây tình trạng hốc mũi bị giãn rộng, polype lòi ra cửa mũi trước, thòng vào cửa mũi sau, phá hỏng xương hốc mũi làm xương hốc mũi mỏng như vỏ quả bóng bàn, lấy tay ấn vào có hiện tượng lõm khi bỏ tay ra thành xương lại bật lên. Thay đổi hình dạng hốc mũi, làm cho mũi không còn chiều cao.
Hình ảnh nội soi bệnh viêm xoang polype mũi. Polype che kín khe mũi
2.7.3.Viêm mũi xoang trẻ em: viêm xoang trẻ em gặp ở trẻ em có bệnh viêm mũi dị ứng, viêm VA kéo dài. Do viêm mũi liên miên, niêm mạc các xoang bị phù nề làm tắc lỗ thông xoang, làm ứ dịch trong xoang, gây ra viêm xoang. Các xoang chứa dịch, khe mũi hai bên nhiều dịch làm trẻ viêm mũi kéo dài, ho do đàm nhớt chảy xuống họng thanh quản, viêm phế quản kéo dài, nặng có thể viêm phổi. Trẻ chán ăn, đi cấu phân lỏng, đầy bụng do nuốc phải dịch và mủ từ xoang chảy xuống.
Hình ảnh viêm xoang do nấm dưới nội soi: mủ màu trắng, dai chảy từ khe mũi xuống sàn mũi.
2.7.5.Viêm mũi teo (Ozene):niêm mạc cuốn mũi giữa, niêm mạc hốc mũi, niêm mạc vách ngăn bị bao phủ một lớp mày xanh, hôi phá hủy cấu trúc dưới niêm mạc. Lâu dần hốc mũi bị ăn rỗng nhưng người bệnh vẫn cảm giác mình bị nghẹt.
Hình ảnh viêm mũi teo niêm mạc hốc mũi bị che bởi lớp vảy xanh, hôi. Hốc mũi bị ăn rỗng.
2.7.6.Viêm xoang do răng: xảy ra một bên. Do răng tiền hàm, răng hàm bị viêm, do đặc điểm chân răng hàm cắm vào xoang hàm, nên khi sâu răng tạo ra ổ viêm trực tiếp xoang hàm. Chẩn đoán chính xác nhờ khám lâm sàng và chụp CT xoang.
3.ĐIỀU TRỊ VIÊM XOANG
Tùy thuộc mức độ viêm xoang mà bác sĩ đề nghị phương pháp điều trị phù hợp:
- Điều trị nội khoa: kháng sinh, kháng histamin, thuốc co mạch, rửa xoang bằng phương pháp Proetz định kỳ, nhằm loại bỏ các dị nguyên và dịch tiết trong xoang.
-Phẫu thuật:tùy theo mức độ viêm xoang, các loại phẫu thuật được đề nghị như mở khe giữa, phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng (FESS), phẫu thuật nội soi mũi xoang triệt căn (RESS). Loại bỏ các bất thường như vẹo vách ngăn, cắt bán phần cuốn mũi giữa, cắt polype mũi, lấy các tổ chức nấm, chữa sâu răng…
Viêm mũi xoang dị ứng, viêm xoang polype mũi: ngoài việc điều trị phẫu thuật lấy sạch polype, các xoang bị viêm. Chăm sóc định kỳ, xịt kháng histamin và rửa mũi.
Viêm xoang do nấm:cần lấy sạch các tổ chức nấm, đặt thuốc chống nấm khi mổ, rửa thuốc chống nấm sau mổ và uống thuốc chống nấm nếu thấy cần thiết.
-Chăm sóc sau mổ: việc chăm sóc bệnh nhân sau mổ xoang đóng vai trò rất quan trọng. Loại bỏ dịch viêm, máu bầm giúp cho các xoang mau lành, giảm nghẹt mũi, người bệnh bớt nhức đầu. Chế độ ăn uống tốt giúp người bệnh mau hồi phục. Việc tái khám sau mổ là cần thiết, tùy theo bệnh tích bác sĩ sẽ tái khám và chăm sóc đến khi xoang tốt. Nhiều trường hợp mổ xoang tốt nhưng không được chăm sóc tốt sẽ làm bệnh tái phát, nhất là viêm xoang polype mũi, viêm mũi xoang dị ứng và viêm xoang do nấm.
Phẫu thuật xoang kinh điển:
Trước đây khi chưa có nội soi, mổ xoang được soi sáng bằng đèn trán, do vậy phẫu thuật viên không thể nhìn xa và thấy rõ cấu trúc trong hốc mũi, do vậy phẫu thuật chủ yếu được thực hiện qua đường rãnh lợi môi và mới chỉ mổ xoang hàm bằng phẫu thuật mở xoang hàm; một số phẫu thuật viên có kinh nghiệm có thể phẫu thuật nạo sàng qua mũi ở nhóm sàng trước. Trên mặt người có khoảng bốn chục xoang, nhưng ngày xưa chỉ mổ một hay hai xoang hàm, như vậy còn gần bốn chục xoang (xoang sàng, xoang trán, xoang bướm) bị viêm chưa được phẫu thuật, do vậy bệnh viêm xoang không thể khỏi.
4. QUAN ĐIỂM ĐIỀU TRỊ VIÊM XOANG TÍCH CỰC
TẠI BV TMH SÀI GÒN
4.1. TẠI SAO ĐÃ PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG, BỆNH VIÊM XOANG VẪN CHƯA KHỎI?
Một số nguyên nhân mà sau mổ xoang, bệnh viêm xoang vẫn còn:
-Thứ nhất, viêm mũi dị ứng gắn liền với bệnh viêm xoang: phần lớn người bị bệnh viêm xoang có liên quan đến viêm mũi dị ứng.
-Thứ hai, bất thường về giải phẫu trong hốc mũi: vẹo vách ngăn, qúa phát cuốn mũi giữa, u hốc mũi không được giải quyết triệt để nên vẫn gây tắc sự lưu thông khí với các xoang.
-Thứ ba do suy nghĩ mình bị nhiễm siêu vi, cảm cúm sẽ tự khỏi, không cần khám bệnh để được chữa trị cho đúng. Chỉ khi viêm xoang nặng mới đi khám, lúc đã viêm xoang.
-Thứ tư do môi trường sống không sạch, bụi, nấm mốc, phấn hoa cỏ, thực phẩm gây dị ứng ở người có cơ địa dị ứng cũng góp phần làm cho niêm mạc các xoang ngày một phù nề, dẫn đến thoái hóa polype. Như vậy các xoang sẽ bị tắc hoàn toàn, người bệnh chuyển sang giai đoạn viêm
xoang mãn tính; nếu viêm xoang xảy ra ở người bị viêm mũi dị ứng bệnh sẽ trầm trọng hơn gọi là bệnh viêm mũi xoang dị ứng. Hậu quả tất yếu sẽ dẫn đến thoái hóa polype, thậm chí cuốn mũi giữa hay cuốn mũi dưới cũng thoái hóa polype. Một điều chắc chắn là các xoang nhỏ (xoang sàng) sẽ bị viêm mãn tính hơn các xoang hàm hay xoang trán, xoang bướm bởi lỗ thông các xoang sàng nhỏ, dễ tắc khi bị phù nề.
-Phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm:cấu tạo giải phẫu xoang rất phức tạp nên người ta goi vùng xoang sàng là mê đạo sàng, để chỉ sự phức tạp ngóc ngách như mê cung. Do phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm nên giải quyết vấn đề chưa triệt để, kinh nghiệm lâm sàng yếu.
-Do lấy chưa hết bệnh tích:do có nhiều xoang, khi phẫu thuậ không lấy hết bệnh tích các xoang bị viêm. Mổ xoang một bên hay một phần của một bên nên vẫn còn nhiều xoang bị viêm chưa được can thiệp.
-Chăm sóc sau mổ: người bệnh không được chăm sóc sau mổ, nên việc dẫn lưu chưa được thực hiện. Hơn nữa chăm sóc là kiểm tra xem còn vần đề nào chưa được giải quyết cần được loại bỏ khi chăm sóc.
-Thuốc: thuốc uống hay xịt đóng vai trò quan trọng sau mổ. Bình thường cần uống thuốc kháng sinh, kháng viêm, kháng Histamine khoảng 3 tuần sau mổ, nếu viêm xoang do nấm nếu thấy cần nên uống thuốc chống nấm 2 tuần. Rửa mũi vào tuần thứ ba sau mổ. Do không thực hiện tốt việc uống thuốc cũng góp phần làm viêm sau mổ.
4.2.QUI TRÌNH ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI XOANG TẠI BV TMH SÀI GÒN
Viêm xoang là tình trạng tắc các lỗ thông từ trong xoang dẫn ra hốc mũi, do niêm mạc bị phù nề, polype, dịch. Việc điều trị viêm xoang là lấy sạch niêm mạc xoang bị viêm, làm sao cho niêm mạc các xoang được tiếp xúc với oxy trong không khí qua đường mũi; các bất thường về cấu trúc giải phẫu trong hốc mũi cần phải được điều chỉnh, tạo sự thông thoáng trong mũi, giúp cho sự trao đổi khí với niêm mạc các xoang được tái hồi phục, bệnh viêm xoang sẽ khỏi.
Như ta đã biết, xoang là các hốc rỗng ở khối xương mặt, mỗi xoang đều có một ống thông với hốc mũi để dẫn lưu không khí từ mũi vào xoang
và ngược lại. Bên trong các xoang được che phủ bởi lớp niêm mạc có lông chuyển và tiết nhầy. Bình thường không khí đi vào trong các xoang qua lỗ thông; khi bị viêm, niêm mạc các xoang bị phù nề (nhất là trường hợp bị viêm mũi dị ứng) dẫn đến tắc các ống thông. Như vậy hiện tượng xuất tiết dịch trong các xoang xảy ra; nhưng do tắc không chảy ra hốc mũi, nên gây ứ đọng trong các xoang. Lúc đầu niêm mạc các xoang bị viêm nhưng vô trùng, sau đó vi khuẩn thường trú ở mũi hay mới xâm nhập gây viêm nhiễm trùng trong các xoang và hiện tượng mủ xanh, mủ vàng từ các xoang xảy ra. Các triệu chứng nghẹt mũi, chảy mũi, nặng đầu, nhức đầu, nhức mắt, khạc đàm xuất hiện. Nếu được điều trị nội khoa tích cực bệnh viêm xoang sẽ khỏi, các xoang dần trở lại trạng thái Bình thường. Qui trình điều trị bệnh viêm xoang nặng được thực hiện như sau:
1.Khám nội soi > 2. Chụp CT Scan não – xoang > 3.Chẩn đoán xác định trường hợp viêm xoang có có chỉ định phẫu thuật > 4.Phẫu thuật nội soi mũi xoang dựa trên CT và nội soi > 5. Chăm sóc sau mổ hàng tuần > 6. Tái khám sau mổ 2 tháng, nếu chưa tốt cần can thiệp thêm: đốt cuốn mũi dưới, tách dính cuốn. Như vậy người bệnh sẽ khỏi bệnh viêm xoang.
4.2.1.PHẪU THUẬT DỰA TRÊN CT XOANG, NỘI SOI MŨI XOANG
Ngày nay cùng với tiến bộ của khoa học, máy chụp cắt lớp điện toán (CT Scanner) ra đời giúp cho việc khảo sát các xoang chính xác hơn. Dựa vào phim CT bác sĩ phẫu thuật viên xác định được các xoang bị viêm, có thể lấy sạch bệnh tích các xoang bị viêm, nhất là xoang sàng sau và xoang bướm, do vậy bệnh viêm xoang sẽ khỏi.
Tùy theo bệnh tích viêm xoang mà phẫu thuật viên đề nghị phẫu thuật phù hợp:
Nếu chỉ tắc các lỗ thông xoang, niêm mạc trong xoang còn tốt, chỉ cần mở khe giữa, bệnh viêm xoang sẽ ổn định.
Nếu niêm mạc các xoang thoái hóa, tắc các lỗ thông xoang, cần phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng (Fess), nhằm lấy bệnh tích các xoang hư, mở lỗ dẫn lưu các xoang, giúp cho sự tái hồi phụ chức năng trong các xoang.
Nếu viêm xoang thoái hóa niêm mạc trong các xoang,tắc hoàn toàn lỗ thông các xoang, polype khe mũi hay hốc mũi cần lấy sạch bệnh tích và lấy bỏ các xoang viêm, cắt polype, nếu xoang bướm niêm mạc bị thoái hóa cần phải thực hiện phẫu thuật nội soi mũi xoang triệt căn (Ress).
Trong trường hợp viêm mũi xoang dị ứng, polype mũi, quá phát cuốn mũi giữa, viêm xoang do nấm cần phẫu thuật mở rộng hỗ trợ thêm bằng cắt bán phần cuốn mũi giữa và đốt cuốn mũi giữa.
Cùng với nội soi, CT Scanner góp phần chẩn đoán chính xác, giúp các bác sĩ điều trị thành công nhiều ca bệnh khó.
4.2.2.ĐỘI NGŨ THÀY THUỐC
Phẫu thuật viên:các Bác sĩ phẫu thuật viên bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn có đạo đức, được đào tạo chính qui. Bệnh viện thực hiện đào tạo các Bác sĩ của bệnh viện theo quan điểm 'Kiến thức giỏi, kỹ thuật tốt'. Kiến thức được đào tạo tại trường đại học, đào tạo nước ngoài, đào tạo sâu chuyên ngành, luôn theo kịp các phương pháp điều trị mới nhất về tai mũi họng của thế giới, là các bác sĩ giỏi. Bác sĩ của bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn đều được học và thực tập mổ xoang trên xác trước khi mổ trên người, khi mổ được hướng dẫn cụ thể nên nắm chắc các mốc phẫu thuật, kỹ thuật mổ tốt.
4.2.3.TRANG THIẾT BỊ Y TẾ HIỆN ĐẠI
Tiêu chí của bệnh viện là xây dựng bệnh viện Tai mũi họng Sài Gòn hiện đại, khám và điều trị bệnh tai mũi họng kỹ thuật cao. Từ đó xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, tiện nghi, bệnh viện khách sạn, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh dịch vụ y tế tốt giúp cho người bệnh tai mũi họng có thể điều trị tại bệnh viện không phải ra nước ngoài tốn kém.
4.2.4.CHĂM SÓC TOÀN DIỆN
4.2.4.1.Chăm sóc về y tế
Bệnh nhân được chăm sóc bởi đội ngũ điều dưỡng bệnh viện 24/24 giờ ngày. Người nhà chỉ đến thăm, không phải nuôi.
Bác sĩ phẫu thuật viên, bác sĩ trực, Giám đốc bệnh viện thăm người bệnh thường xuyên, Điều dưỡng thường xuyên túc trực đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, hỗ trợ người bệnh.
Hội chẩn các trường hợp bệnh khó, bệnh nặng kịp thời.
Bệnh viêm xoang tại bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn được điều trị theo quan điểm chẩn đoán chính xác, điều trị triệt để, chăm sóc toàn diện nhờ vậy tỷ lệ người bệnh khỏi bệnh cao.
Để đảm bảo xoang không bị viêm tái phát do dị ứng, người bị viêm xoang nên rửa mũi định kỳ mỗi một hay hai tuần một lần; mũi sẽ mãi thông thoáng không chảy dịch, cuộc sống thanh thản hơn.
4.2.4.2.Chế độ ăn uống
Góp phần vào điều trị việc chăm sóc người bệnh trong thời gian nằm tại bệnh viện, việc nghỉ ngơi dưỡng bệnh, ăn uống đủ dinh dưỡng, bữa ăn ngon, sạch. Bệnh nhân được uống nước ép trái cây tươi mỗi ngày, ăn theo chế độ bệnh.
Phòng bệnh sạch, yên tĩnh
Chế độ ăn đủ dinh dưỡng theo chế độ bệnh lý
Sữa tươi và nước trái cây tươi ép bổ sung dinh dưỡng tốt.
ĐỌC THÊM
CÁCH TỰ CHĂM SÓC KHI BỊ BỆNH VIÊM XOANG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét